Ghết-sê-ma-nê.
Bản dịch bằng AI · Bản gốc tiếng Anh
Đêm Đức Chúa Trời quỳ gối.
Sau cùng, Ghết-sê-ma-nê là lý do tôi là một Cơ Đốc nhân.
Vì ở đó, trước khi một chiếc đinh đầu tiên xuyên vào thân thể Ngài, tôi bắt đầu thấy lời nói rằng Đấng Christ đã yêu chúng ta thực sự có nghĩa gì.
Đức Con đời đời đang ở trên mặt đất. Linh hồn Ngài ngập trong buồn rầu. Ngài hỏi Cha liệu chén này có thể qua khỏi không.
Đấng mà nhờ Ngài sự sống hiện hữu biết thế nào là muốn tiếp tục sống.
Và Ngài trao sự sống ấy vì chúng ta.
Tôi thấy thật khó hiểu hết tầm vóc của điều đó. Chúng ta nói Chúa Giê-su đã chết cho mình thường xuyên đến mức lời ấy có thể đi qua môi mà chẳng chạm đến phần sâu thẳm đáng lẽ phải run lên khi nghe.
Nhưng khu vườn ấy khiến tôi dừng lại.
Bởi chúng ta không thể hiểu tình yêu bộc lộ trong sự sẵn lòng của Ngài nếu chưa nhìn nhận nghiêm túc nhân tính rùng mình trước cái giá phải trả.
Chính nhân tính của Ngài đã khiến thập tự giá khó khăn đến vậy.
Ngài có thân thể có thể bị thương, tâm trí có thể đối diện khổ đau đang đến gần, linh hồn có thể buồn rầu và ý chí con người vốn tự nhiên khao khát sự tốt lành của việc được sống.
Thập tự giá sẽ xảy đến với CHÍNH NGÀI.
Và Đấng sẽ chịu điều đó là Đức Chúa Trời Ngôi Con.
Đó là mầu nhiệm tôi muốn ở lại cùng. Đấng nâng đỡ mặt đất đã ngã mình trên đó. Đấng ban hơi thở cho mọi sinh vật đã trở nên người có thể trao đi chính hơi thở mình.
Grêgôriô thành Nazianzus đặt nghịch lý trước chúng ta: “Ngài cầu nguyện, nhưng cũng nghe lời cầu nguyện. Ngài khóc, nhưng cũng khiến nước mắt ngừng rơi.”
Cả hai thực tại thuộc về cùng một Ngôi vị.
Đôi khi chúng ta tưởng nhân tính của Đấng Christ là bề mặt thấy được, còn thần tính được giấu an toàn phía sau. Thân thể Ngài gặp đau đớn, nhưng Đấng ở trong thân thể ấy lại không bị kinh nghiệm đó chạm tới.
Nhưng như vậy sẽ rút hết sự gần gũi sâu xa của sự nhập thể.
Đức Con đời đời đã nhận nhân tính chúng ta làm của chính mình. Ngài đích thân sống qua tâm trí, tình cảm, thân thể và ý chí ấy. Bản tính thần linh vẫn là thần linh, còn khổ đau Ngài trải qua trong nhân tính thực sự là CỦA NGÀI.
Lêô Cả khẳng định tính trọn vẹn của cả hai bản tính: nhân tính giữ nguyên thực tại của nó trong sự hiệp nhất với thần tính. Sự uy nghi của Ngôi vị không bao giờ khiến những vết thương trở nên không thật.
Chúng ta phải phân biệt Ngài chịu khổ như thế nào mà không chia cắt Đấng chịu khổ.
Chỉ có một Đức Con.
Đấng mà thân thể sẽ bị giày xéo chính là Đấng nhờ Ngài mọi thân thể hiện hữu.
Đó là lý do không thể thu nhỏ Ghết-sê-ma-nê thành câu chuyện cảm động về một người đàn ông can đảm. Đấng quỳ ở đó là ai thay đổi ý nghĩa của mọi điều Ngài trải qua.
Đức Chúa Trời Ngôi Con đã đích thân bước vào tình trạng của chúng ta.
Và Ngài đã bước vào tận bên trong.
Grêgôriô cho chúng ta lý do bằng một câu có hệ quả phi thường: “Điều gì Ngài không nhận lấy thì Ngài không chữa lành.”
Tâm trí con người có ý nghĩa đối với sự cứu rỗi. Việc con người muốn và chọn có ý nghĩa đối với sự cứu rỗi. Đời sống nội tâm nhờ đó chúng ta trải nghiệm thế giới có ý nghĩa đối với sự cứu rỗi.
Đức Con nhận nhân tính chúng ta một cách trọn vẹn, không có tội, để phục hồi nó một cách trọn vẹn.
Vì thế, khi gặp nỗi thống khổ của Ngài trong vườn, chúng ta đang gặp điều thuộc về chiều sâu của sự nhập thể.
Ngài đã đến nơi con người biết điều gì sắp đến mà vẫn phải sống qua lúc nó tới.
Thập tự giá chưa xuyên qua thân thể Ngài. Nhưng sự tiến gần của nó đã được chịu đựng rồi.
Chúng ta biết phần nào kinh nghiệm ấy. Mất mát có thể bắt đầu đau trước khi xảy ra. Một cuộc nói chuyện có thể chiếm lấy toàn thân trước khi một lời được thốt ra. Ngày mai có thể thành gánh nặng mang hôm nay.
Đức Con đã bước vào cả chiều kích này của đời sống con người.
Và khi Ma-thi-ơ ghi lại nỗi buồn của Ngài, chính Đức Con hoàn toàn thành tín đang bày tỏ nó.
Sự thánh khiết và nỗi thống khổ của Ngài cùng hiện diện trong một khoảnh khắc.
Hiểu biết của chúng ta về sự trưởng thành thuộc linh sẽ phải thay đổi đến đâu nếu để sự thật ấy chạm tới mình?
Ta có thể tưởng gần Đức Chúa Trời là bất khả tổn thương về cảm xúc. Nhưng một tấm lòng hoàn toàn nhạy sống với điều thiện có thể cảm rất sâu nỗi kinh hoàng của điều đe dọa nó.
Đấng Christ biết sự sống con người đáng giá thế nào.
Nỗi buồn của Ngài nhìn nhận nghiêm túc sự tốt lành của nó.
John thành Damascus phân biệt nỗi sợ tự nhiên với sự bất tín có tội. Mong muốn tự nhiên gìn giữ sự sống thuộc về hiện hữu có thân thể của chúng ta. Việc Đấng Christ rùng mình trước cái chết bày tỏ thực tại của bản tính con người Ngài đã nhận.
Cái chết đe dọa một điều tốt lành.
Mong muốn được sống của Ngài là vô tội.
Điều ấy quan trọng, vì sự sống Ngài ban là món quà của thứ Ngài trân quý. Sự sẵn lòng ấy có sức nặng chính vì sự sống được trao thật quý giá.
Rồi chúng ta nghe lời cầu nguyện ở trung tâm mầu nhiệm:
“Xin ý Cha được nên, chứ không phải ý Con.”
Đức Con có thể cùng chia sẻ mục đích thần linh về sự cứu rỗi của chúng ta, mà vẫn thật lòng cầu xin chén qua khỏi, như thế nào?
Để trả lời, chúng ta phải suy nghĩ cẩn thận Ngài hoàn toàn là con người có nghĩa gì.
Maximus, người tuyên xưng đức tin, hiểu rằng nhân tính không có ý chí con người sẽ là nhân tính không trọn vẹn. Đức Con nhận khả năng con người muốn, khao khát điều thiện và hành động tự do.
Vì thế, Đấng Christ có cả ý chí thần linh lẫn ý chí nhân loại.
Ý chí thần linh của Ngài là một ý chí Ngài đời đời cùng có với Cha và Đức Thánh Linh. Ý chí nhân loại thuộc về nhân tính trọn vẹn Ngài đã nhận làm của mình.
Có một Ngôi vị muốn qua cả hai.
Hai ý chí không có nghĩa là hai bản ngã đối nghịch.
Sự vâng phục nhân loại của Đức Con là hành động con người của chính Ngài. Nhân tính Ngài dự phần đầy đủ vào lễ dâng.
Điều Ngài đời đời muốn trong tư cách Đức Chúa Trời, Ngài hoàn tất trong lịch sử trong tư cách con người.
Một lời XIN VÂNG của con người thuộc về công việc cứu rỗi của Đức Chúa Trời.
Nhưng lời xin chén qua khỏi cũng là thật. Làm sao cả hai đều thật?
Vì cùng một sự kiện có thể được đối diện trong tương quan với những điều tốt lành khác nhau.
Cái chết, khi được xét là sự hủy hoại sự sống con người, là điều nhân tính Ngài tự nhiên rùng mình trước nó. Cái chết được tự nguyện chịu đựng trong mục đích cứu rỗi chúng ta trở thành điều Ngài tự do chấp nhận.
Mong muốn giữ mạng sống và sự sẵn lòng trao nó đều thật sự là con người. Sự rùng mình tự nhiên không bao giờ trở thành từ chối Cha.
Ngài biết giá trị sự sống và biết mục đích cứu rỗi mà vì đó Ngài trao nó.
Cuộc vật lộn của Ghết-sê-ma-nê nằm trong cái giá nhân loại vô cùng lớn của lễ dâng thành tín ấy.
Tình yêu Ngài đã vững. Cái giá đang được sống qua.
Ta có thể nhầm sự chắc chắn với sự dễ dàng. Ta tưởng nếu Đấng Christ biết sự tốt lành của Cha, biết sứ mạng và biết sự phục sinh sẽ tiếp theo, thì kinh nghiệm của Ngài hẳn phải được che chở khỏi khổ đau cách nào đó.
Nhưng tri thức không gây tê sự hiện hữu.
Một lời hứa có thể hết lòng trước khi những đòi hỏi của nó được sống qua. Một người có thể biết mình yêu ai mà vẫn chịu đau đớn khủng khiếp khi trao mình cho người ấy.
Tình yêu đã vững không có nghĩa là cái giá của nó đã được chịu xong.
Đức Con biết. Con người ấy vẫn phải chịu khổ.
Và Đức Con cùng con người ấy là một Ngôi vị.
Đó là điều làm khu vườn sâu thẳm đến vậy.
Khi nói Ngài vượt thắng nhân tính mình, tôi muốn nói Ngài mang nhân tính đi qua toàn bộ nỗi khiếp sợ khổ đau và cái chết, tự do dâng mình trong khi vẫn cảm nhận cái giá của lễ dâng.
Trong chiến thắng, Ngài vẫn hoàn toàn là con người.
Nhân tính đang run rẩy chính là nhân tính ưng thuận.
Lời tuyên xưng của Hội Thánh về hai ý chí của Đấng Christ bảo vệ thực tại này. Ý chí nhân loại được gìn giữ trong sự hiệp nhất với Đức Chúa Trời. Sự vâng phục của nó là hành động sống động của tự do con người.
Và điều ấy dẫn ta tới câu hỏi về chính tự do.
Chúng ta thường đồng nhất tự do với khả năng từ chối. Tôi còn tự do vì tôi có thể rút lui, vì không lời cam kết nào cuối cùng có thể đòi lấy tôi, vì khi cái giá quá lớn, tôi có thể chọn điều khác.
Nhưng khả năng phản bội có phải điều làm tình yêu tự do không?
Hay tự do đạt sự viên mãn trong khả năng hết lòng trao mình cho điều thiện?
Biết bao điều ta gọi là tự do chỉ là vâng theo bất cứ gì hứa cho mình nhẹ nhõm.
Ta giấu sự thật vì trung thực đe dọa sự chấp nhận của người khác. Ta rút lại tình yêu vì yêu đã thành đau. Ta trốn trách nhiệm vì không chịu nổi điều nó đòi hỏi.
Rồi ta gọi mình tự do vì đã theo ham muốn của mình.
Nhưng ta tự do đến đâu nếu mối đe dọa của đau đớn có thể cai quản tất cả những gì ta sẵn lòng yêu?
Tại Ghết-sê-ma-nê, Đấng Christ cảm nỗi khiếp sợ khổ đau của con người mà vẫn tự do dâng mình.
Mong muốn sống của Ngài là thật. Tình yêu cứu rỗi của Ngài vẫn tự do.
Sự mất mạng sống đang tới không thể ép Ngài từ bỏ điều thiện mà vì đó Ngài trao nó.
Hê-bơ-rơ nói Ngài đến giải phóng những người bị nô lệ bởi sợ chết. Khu vườn khiến tôi thấy sự nô lệ ấy có thể sâu đến đâu, và tự do của Ngài sâu thẳm thế nào.
Ngài đi về cái chết trong một tình yêu cái chết không cai quản nổi.
Nhưng ý nghĩa này vượt xa một gương mẫu phi thường về lòng can đảm cá nhân.
Irenaeus hiểu sự vâng phục của Đấng Christ trong tương quan với sự bất tuân của A-đam. Đấng Christ quy tụ lịch sử loài người nơi chính mình và đưa nó tới sự hoàn thành mới. Sự vâng phục trên thập tự giá tháo gỡ điều sai lạc bên cây ấy.
Điều đó khiến tôi đọc Ê-đen và Ghết-sê-ma-nê cùng nhau.
Tại Ê-đen, nhân loại vươn tìm sự viên mãn bằng cách không tin Đấng ban sự sống.
Tại Ghết-sê-ma-nê, Đấng Christ phó thác sự sống con người mình cho Cha khi đối diện cái chết.
Lời đáp thành tín của con người với Đức Chúa Trời đang được sống tận chiều sâu, trong những điều kiện khủng khiếp nhất.
Đấng Christ không bao giờ cần quay khỏi sự phản nghịch cá nhân. Ngài là Đức Con thành tín, Đấng mà sự vâng phục phục hồi chúng ta.
Ý chí nhân loại của Ngài là phần của nhân tính qua đó sự cứu rỗi chúng ta được hoàn tất.
Điều ấy khiến tôi nghĩ lại chúng ta là gì.
Chúng ta nhận lấy sự hiện hữu. Chúng ta không sáng tạo ra sự tốt lành làm cuộc sống đáng sống. Chính tự do của ta là quà tặng.
Có lẽ ta trở nên trọn vẹn là mình nhất khi có thể trao món quà ấy trong tình yêu.
Trong Đấng Christ, sự hiệp thông với Đức Chúa Trời đưa tự do con người tới viên mãn. Nhân tính Ngài vẫn hoàn toàn là con người trong khi hoàn toàn thành tín.
Ghết-sê-ma-nê cùng bày tỏ cái giá tình yêu Ngài và đích đến nhân tính của chúng ta.
Chúng ta được tạo dựng cho sự hiệp thông.
Và tại đây, trong Đức Con nhập thể, Đức Chúa Trời đến với nhân loại trong tình yêu cứu rỗi, còn nhân loại đáp lời Đức Chúa Trời trong sự vâng phục thành tín.
Cả hai chuyển động thuộc về cùng một Ngôi vị.
Còn một chiều kích khác của chén mà chúng ta phải nhìn nhận nghiêm túc.
Trong Kinh Thánh, chén có thể chỉ phần khổ đau và xét xử đã định. Ê-sai nói về chén thịnh nộ của Đức Chúa Trời. Điều đó giúp ta nghe thấy sức nặng hình ảnh Chúa Giê-su dùng.
Ngài tiến tới cuộc thương khó trong tư cách Đấng trung bảo sự cứu rỗi của ta, đối diện thực tại tội lỗi, xét xử và cái chết.
Lễ dâng Ngài đi xa hơn gương mẫu ta có thể ngưỡng mộ. Nó hoàn tất sự hòa giải và giải cứu ta cần.
Vì thế, tầm vóc thập tự giá không thể đo bằng cách chỉ tính nỗi đau thể xác.
Chúng ta phải hỏi ai đang trao mình, trao cho ai và món quà ấy hoàn tất điều gì.
Đấng dâng sự sống con người hữu hạn này là Đức Con đời đời.
Tình yêu Ngài được bày tỏ qua trái tim con người. Ngôi vị có tình yêu ấy vẫn là Đức Chúa Trời.
Khổ đau không tạo ra tình yêu ấy.
Nó bày tỏ tình yêu ấy bước sâu vào tình trạng của ta đến đâu.
Và tình yêu vẫn không phân chia.
Cha và Con cùng có một ý chí thần linh. Sự vâng phục nhân loại của Chúa Giê-su bày tỏ mục đích cứu rỗi Ngài đời đời cùng có với Cha.
Tình yêu Cha đã có trong việc sai Con. Tình yêu Con hiện diện trong lễ dâng tự do của Ngài.
Ghết-sê-ma-nê bày tỏ chiều sâu con người của mục đích thần linh ấy.
Ngài vẫn gọi Đức Chúa Trời là Cha.
Chén vẫn trước mặt Ngài. Mối quan hệ vẫn ở trong lời cầu nguyện.
Ngài nói thật niềm khát khao con người trong khi phó mình cho Cha Ngài yêu.
Bao nhiêu hiểu biết của ta về tình yêu thần linh tùy thuộc vào niềm tin rằng được yêu phải có nghĩa là được miễn chịu khổ?
Chúa Giê-su là Đức Con được yêu trong vườn.
Nỗi thống khổ không xóa tư cách Con. Lời cầu xin không xóa sự thành tín.
Ngài mang toàn bộ kinh nghiệm con người vào hiệp thông với Cha.
Augustine đưa ta tới một hệ quả phi thường của mầu nhiệm này. Ông viết Đấng Christ “cầu nguyện cho ta với tư cách Thầy Tế Lễ của ta” và “cầu nguyện trong ta với tư cách Đầu của ta”, đồng thời là Đức Chúa Trời ta cầu nguyện với.
Mối quan hệ của ta với Ngài bao gồm cả ba thực tại.
Ta đến với Ngài, nhìn nhận Ngài là Đức Chúa Trời. Ta đến với Cha qua Ngài, Đấng trung bảo của chúng ta. Là chi thể thân Ngài, ta được kết hiệp với Đấng đã dâng sự sống con người trong sự thành tín hoàn hảo.
Lời cầu nguyện Ngài mở ra điều gì đó cho ta.
Đấng ta đem nỗi thống khổ tới đã đích thân bước vào đời sống có thể trải nghiệm thống khổ. Đấng qua Ngài ta tới Cha đã đích thân nói với Cha bằng tiếng nói con người.
Nhân tính ta có chỗ trong sự hiệp thông của Ngài.
Và Ngài cho phép nhân tính ấy được nhìn thấy.
Ngài xin bạn hữu ở lại bên mình. Đức Con khiến họ hiện hữu xin sự đồng hành của họ.
Có sự dịu dàng phi thường trong lời xin ấy. Mối quan hệ hoàn hảo với Cha cũng có chỗ cho sự đồng hành của con người.
Rồi họ ngủ thiếp đi.
Những người gần đủ để nghe Ngài không thể thức cùng Ngài.
Nhưng Ngài vẫn cầu nguyện. Ma-thi-ơ kể Ngài trở lại nhiều lần, sự phó thác đã có trong lời cầu nguyện đầu và được sống thành tín qua cái giá tiếp diễn của giờ ấy.
Nỗi đau còn đó trong khi lễ dâng còn đó.
Rồi Hê-bơ-rơ nói Ngài đã cầu nguyện bằng tiếng kêu và nước mắt, và đã được nhậm lời.
Ngài đã ĐƯỢC NHẬM LỜI.
Ngài vẫn đi tới thập tự giá.
Đọc trong ánh sáng phục sinh, lời đáp đi xuyên cái chết tới sự sống phục sinh. Mục đích cứu rỗi vượt quá việc thoát khỏi thử thách đang đến.
Chén còn đó. Cái chết sẽ mất tiếng nói cuối cùng.
Đây là điều thiết yếu với ý nghĩa khu vườn: mục đích khổ đau của Ngài là sự sống.
Phản bội vẫn là ác. Vết thương vẫn kinh hoàng. Cái chết vẫn là kẻ thù.
Tình yêu Ngài đi vào những thực tại này để hoàn tất sự cứu rỗi của ta, còn sự phục sinh bày tỏ chiến thắng lễ dâng hướng tới.
Và ta phải nhớ ai nhận được ích lợi từ lễ dâng ấy.
Các môn đồ không canh thức được.
Chúa Giê-su tiếp tục tới thập tự giá cho họ.
Những người không thể thức bên Ngài cũng ở trong số những người Ngài trao mình cho.
Sự thành tín Ngài tới với những người đã thất bại trong sự thành tín của mình.
Trước khi khu vườn trở thành khuôn mẫu vâng phục của tôi, nó là phần trong sự vâng phục Đấng Cứu Rỗi làm cho tôi.
Đó là lý do tôi là Cơ Đốc nhân.
Vì ở đây có Đấng biết trọn cái giá con người của việc yêu ta, cảm cái giá ấy trong nhân tính thật như nhân tính ta, và tự do trao mình.
Đấng Tạo Hóa đã đích thân bước vào thụ tạo của Ngài.
Đức Con đời đời đã đáp lời thành tín trong thời gian.
Nhân tính rùng mình trước cái chết đã được dâng trong tình yêu mạnh hơn cái chết.
Và nhân tính Ngài nhận lấy không bao giờ bị bỏ đi.
Sau khi sống lại, Chúa Giê-su cho các môn đồ xem tay và sườn. Vết thương thuộc về Chúa phục sinh. Đấng họ thờ phượng là Đấng đã chịu khổ, nay sống bên ngoài quyền thống trị của cái chết.
Ngài mang nhân tính mà qua đó Ngài đã yêu ta vào vinh quang.
Vì thế, Ghết-sê-ma-nê vươn tới tương lai của mọi người thuộc về Ngài. Sự sống con người Ngài phục hồi có một đích đến vượt khỏi mộ phần.
Mảnh đất nơi Ngài quỳ mở ra về phía phục sinh.
Nhưng tôi vẫn trở lại khoảnh khắc trước khi Ngài đứng dậy.
Ngài biết tình yêu sẽ phải trả giá gì.
Ngài cảm nhận tình yêu sẽ phải trả giá gì.
Và Ngôi Lời đời đời đáp lời thành tín bằng tiếng nói con người.
Ngài tới thập tự giá với nhân tính trọn vẹn hiện diện trong món quà.
Ngài yêu chúng ta bằng một trái tim con người.
Và Đức Con ban sự sống đời đời sẽ mãi mãi là người đã trao sự sống mình vì chúng ta.